3. Xây dựng thương hiệu cá nhân trên mạng xã hội. Mình là một người lười biếng nên lại càng không muốn việc gì tiêu hao sức lực của mình nhưng không mang lại lợi ích. Nên thay vì để newfeed cuốn mình vào những câu chuyện hay những dòng trạng thái vô nghĩa. Mình chủ
Khoa Nội thận - Thận nhân tạo (Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM) ghi nhận sự gia tăng số lượng người trẻ tuổi bị sỏi thận do tăng axit uric. Nguyên nhân chính được nghĩ tới là thói quen ăn quá nhiều đạm, có trong thịt đỏ, hải sản.
Marco Melgrati, một họa sĩ người Ý đã tạo ra những bức tranh biếm họa cho những sự xuống cấp này trong cuộc sống đời thường. Trong những tác phẩm đó, có rất nhiều cảnh mà chúng ta thấy quen thuộc, hay có thể tìm thấy chính bản thân mình trong những nhân vật kia. Hãy
Nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội a) Giáo dục cải tạo những người mắc tệ nạn xã hội làm cho họ trở thành những công dân có ích cho xã hội. Do đó, các bạn học sinh, sinh viên cần hết sức cảnh giác, thận trọng và phải đủ tỉnh táo trước khi quyết
Các nước thuộc địa trở thành một trong những nguồn sống của chủ nghĩa đế quốc. Trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân, cách mạng thuộc địa có tầm quan trọng đặc biệt. Nhân dân các dân tộc thuộc địa có khả năng cách mạng to lớn
Đa số những bệnh nhân này có thâm niên chạy thận. Anh Hồ Văn Sang (40 tuổi, trú tại xã Thiện Mỹ, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long) là một trong những người chạy thận có "thâm niên" nhất ở đây với 14 năm, bộc bạch: "Dịch bệnh bùng phát, bệnh nhân chạy thận như chúng tôi gặp nhiều khó khăn, nhất là không
77ZR. 1. Chạy thận là gì? Chạy thận hay thẩm tách máu Dialysis là cách điều trị phổ biến nhất hiện nay cho nhóm người thận bị giảm từ 85 đến 90% chức năng vốn có. Nó có tác dụng giảm lượng nước dư, độc tố, muối, và các chất thải khác tích tụ và giữ lại một số chất như bicarbonate, natri, kali trong máu ở ngưỡng an toàn. Chạy thận nhân tạo còn có tác dụng giúp cân bằng huyết áp. Có thể chạy thận trong bệnh viện, tại trung tâm thẩm tách, hoặc tại gia. Nếu thận bị hỏng hoàn toàn, có thể phải chạy thận suốt đời. Chạy thận không chữa được bệnh thận nhưng là cách tốt nhất để duy trì sức khỏe, tuy nhiên, nếu được ghép thận thì không phải chạy thận nữa. 2. Có mấy kiểu chạy thận? Có hai kiểu chạy thận là thẩm tách máu Haemodialysis dialysis gọi ngắn là HD hay lọc cầu tay hay chạy thận nhân tạo bằng máy, tần suất vài lần mỗi tuần. Hai, thẩm phân phúc mạc Peritoneal dialysis hay PD qua màng bụng. Chạy thận nhân tạo HD sử dụng một máy thẩm tách máu có kích thước bằng một chiếc máy rửa bát. Ở phương pháp sau, làm sạch máu ngay bên trong cơ thể người bệnh, chất lỏng được gọi là dialysate đưa vào trong bụng. Trung bình, cứ 30 phút một lần, bơm dịch vào ổ bụng rồi hút dịch thải ra bằng máy. 3. Điều cần làm trước khi chạy thận? Trước khi chạy thận, bác sĩ sẽ làm phẫu thuật nhỏ, mổ cầu tay nối động mạch quay với tĩnh mạch quay để tạo áp lực ở tay để lấy máu ra lọc. Máu bệnh nhân chảy vào những ống dẫn của máy lọc thận. Máu sẽ tiếp xúc với chất dịch do máy sản xuất qua một màng nhân tạo. Sau lọc hết chất độc, máu được đưa trở lại cho bệnh nhân. Mỗi lần chạy thận kéo dài 4-5 giờ, nếu suy thận mạn, phải lọc máu 3 lần mỗi tuần. Đối với phương pháp chạy thận PD, bác sĩ cũng sẽ làm phẫu thuật nhỏ, sẽ đặt một ống thông thường là ống nhựa mềm vào bụng người bệnh để đưa chất lọc dialysate vào và ra khỏi cơ thể. 4. Những rủi ro về chạy thận? Đầu tiên phải kể đến rủi ro mang tên Hội chứng sử dụng lần đầu FUSS, tức phản ứng nghiêm trọng khi chạy thận, kèm theo các triệu chứng như hắt hơi, thở khò khè, thở dốc, đau lưng, đau ngực, nặng có thể tử vong. Nếu xuất hiện bất kỳ triệu chứng nào khi điều trị lần đầu thì nên cho bác sĩ biết ngay, vì FUS là hội chứng rất nguy hiểm, có thể dẫn tới tử vong đột ngột khó lường. Một nguy cơ lớn khác là phát sinh tình trạng cục máu đông. Nếu điều này xảy ra, bác sĩ cần phải loại bỏ cục máu đông, không được ngủ gối đầu tay, có thể làm tăng rủi ro tắc nghẽn, nhiễm trùng. Ngoài ra, còn một số sự cố khác như tụt huyết áp, đặc biệt là ở nhóm mắc người tiểu đường, đi kèm với khó thở, đau bụng, chuột rút cơ bắp... Thiếu máu, không có đủ tế bào máu đỏ trong dòng máu, mắc bệnh về xương do thận bị hư hỏng không sử dụng vitamin D để hấp thụ canxi hiệu quả. Tình trạng quá tải chất lỏng, viêm màng bao quanh tim hay còn gọi là viêm màng ngoài tim. Sự cố nhiễm trùng, ở nơi mà máu rút ra để lọc và đưa trở lại cơ thể người bệnh cũng thường gặp, nhất là ở thủ thuật thẩm tách phúc mạc, được chuyên môn gọi là viêm phúc mạc. Ngoài ra, còn có các rủi ro khác như buồn nôn hoặc chóng mặt nhưng những tác dụng phụ này giảm đi theo thời gian. 5. Chạy thận nhân tạo sống được bao lâu? Theo Quỹ Thậm quốc gia MỸ NKF thời gian sống của người chạy thận cũng khác nhau, điều này phụ thuộc vào thể lực, giai đoạn mắc bệnh chế độ dinh dưỡng, chăm sóc... Trung bình, nếu lọc máu định kỳ sẽ sống được từ 5 đến 10 năm. Cũng có nhiều trường hợp có thể kéo dài từ 20 đến 30 năm. Ngoài ra, để duy trì hiệu quả chạy thận, giảm số lần chạy thận, và nâng cao sức khỏe, bệnh nhân cần tuân thủ một chế độ dinh dưỡng khoa học, hợp lý, duy trì cuộc sống vận động vừa phải, dành ra thời gian để nghỉ ngơi, sống lạc quan, giảm căng thẳng, nếu còn làm việc thì nên chọn công việc phù hợp sức khỏe. Xem thêm Suy thận nên chạy thận nhân tạo hay ghép thận? Nguồn
Công trình nghiên cứu của Trần Thị Bích Hương nguyên phó khoa thận Bệnh viện Chợ Rẫy cùng cộng sự đã giúp tăng thêm cơ hội sống cho người suy thận tiến triển nhanh. Trong ảnh bệnh nhân chạy thận nhân tạo tại Bệnh viện quận Bình Thạnh - Ảnh rã suốt 4 năm từ 2014-2018, TRẦN THỊ BÍCH HƯƠNG nguyên phó khoa thận Bệnh viện Chợ Rẫy cùng các cộng sự miệt mài nghiên cứu nguyên nhân suy thận tiến triển nhanh STTTN - một nhóm bệnh được coi là hiếm tài nghiên cứu này vừa được trao giải kiến tạo của Ủy ban giải thưởng KOVA lần thứ 16-2018. Đây được xem là công trình quy mô đầu tiên tại Việt Nam chứng minh việc tích cực chẩn đoán nguyên nhân và điều trị bệnh căn nguyên giúp bệnh nhân ngưng chạy TNT và hồi phục chức năng đổi với Tuổi Trẻ, bác sĩ Hương nói "Đề tài này nhằm nhắc lại một khái niệm mà bao lâu nay bị bỏ quên - đó là có nhóm bệnh nhân bị STTTN. Trong y văn thế giới từ trước đến nay chỉ chú ý đến hai nhóm bệnh là suy thận cấp và suy thận mạn. Các bác sĩ đều có xu hướng đơn giản hóa việc điều trị bởi quan niệm một khi bệnh nhân chạy thận nhân tạo TNT tức là quả thận đã chết, điều này đồng nghĩa với việc bệnh nhân buộc phải gắn bó phần đời còn lại với TNT".Với nghiên cứu này chúng tôi đã ngăn chặn được gần 90% bệnh nhân bị suy thận sắp chạy TNT không phải chạy TNT. Đối với nhóm đã chạy TNT ít nhất 3 tháng chúng tôi hồi phục được 60% bệnh nhân không còn lệ thuộc TNT BS TRẦN THỊ BÍCH HƯƠNGThận suy chưa hẳn là thận đã Trần Thị Bích Hương chia sẻ về quá trình khám chữa cho bệnh nhân suy thận - Video DUYÊN PHAN* Vì đâu bác sĩ quan tâm đến đề tài này?- Từ năm 2010, tôi gặp một trường hợp bệnh nhân nam rất trẻ, là sinh viên chuẩn bị đi du học nước ngoài bị viêm thận lupus. Lần ấy chúng tôi chỉ điều trị cứu được tính mạng nhưng không thể cứu được thận của bệnh nhân. Điều này khiến tôi thực sự day dứt. Thế rồi năm 2012 chúng tôi bắt đầu đặt vấn đề với hội đồng y đức của Bệnh viện Chợ Rẫy xin được sinh thiết thận ở những trường hợp bệnh nhân suy thận, đang chạy thận để làm đề tài "Chẩn đoán nguyên nhân và điều trị hồi phục chức năng thận ở bệnh nhân suy thận tiến triển nhanh".Để đi đến đề tài nghiên cứu này, chúng tôi phải trải qua một công trình khoa học cấp cơ sở. Lúc đó có 80 bệnh nhân, trong đó 14 bệnh nhân được chỉ định phải chạy thận, đang chạy thận và thật may mắn quá trình điều trị, phục hồi chức năng thận cho tất cả 14 bệnh nhân này đều không có biến chứng.* Điều gì khiến bà tin rằng có một nhóm bệnh nhân STTTN và quả thận của họ còn có thể cứu chữa được?- Quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy có một nhóm suy thận rất đặc biệt, không giống với suy thận cấp và suy thận mạn. Tiêu chuẩn làm cho chúng tôi tin rằng thận vẫn còn sống là kích thước quả thận trên siêu âm hoàn toàn bình thường, thậm chí là khá thường bác sĩ sẽ không sinh thiết một khi bệnh suy thận nặng vào giai đoạn chạy TNT. Nhưng khi tiến hành sinh thiết trên 123 bệnh nhân, chúng tôi có bằng chứng chắc chắn rằng quả thận vẫn còn "sống", một nửa số đó đang phải chạy TNT. Và các mẫu sinh thiết đều cho kết quả trên 90% các đơn vị thận còn nguyên vẹn, hoạt động bình thường. Đây chính là minh chứng khẳng định ngay cả khi bị suy rất nặng quả thận không phải chết hoàn toàn, nó vẫn còn khả năng cứu nhân suy thận điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội - Ảnh Vậy theo bà, đâu là nguyên nhân của bệnh STTTN, vốn được xem là "không tồn tại" và bị "bỏ quên" bấy lâu nay?- Trong những bệnh nhân suy thận nặng phải chạy TNT lần đầu chúng tôi tìm ra một nhóm nguyên nhân chưa được công bố ở nước ta. Đó là khoảng 80% số bệnh nhân có bằng chứng trên lâm sàng thông qua xét nghiệm máu nhiều lần bị nhóm bệnh vi mạch huyết khối. Bệnh này xảy ra ở bệnh nhân STTTN do sự hiện diện của các cục máu đông ở những mạch máu rất nhỏ. Nó có thể "khởi động" khi bệnh diễn tiến nặng hoặc khi bệnh nhân rơi vào những đợt nhiễm trùng nặng. Bệnh nhân rơi vào nhóm bệnh này có trên 90% ở nhóm tuổi rất trẻ, từ 25-35 tuổi. Và đáng sợ hơn khi có tới 90% nguy cơ tử vong nếu không được can thiệp điều trị.*Đề tài nghiên cứu này được đánh giá có quy mô, lần đầu tiên được thực hiện tại Việt Nam. Là người tiên phong bà có chịu khó khăn áp lực gì không? -Việc mở rộng cho nhiều đối tượng rất khó khăn bởi một khi bệnh nhân vào giai đoạn STTTN họ thường kèm theo tổn thương đa phủ tạng suy tim, viêm phổi, nhiễm trung huyết nặng…. Đặc biệt, hầu hết các trường hợp đều kèm theo rối loạn đông máu. Chức năng thận suy sẽ làm cho toàn bộ hệ thống miễn dịch của người bệnh trở nên mong manh, chỉ cần một chút xíu sơ suất bệnh nhân có thể tử vong rất nhanh. Do đó khi làm bất cứ một can thiệp, thủ thuật phải rất cân nhắc, tỉ mỉ. Thận trọng đến nỗi kết quả sinh thiết sau khi được chuyên gia trong nước đọc, để "chắc ăn" chúng tôi tiếp tục gửi qua Úc cho các giáo sư đọc lại một lần nữa để đảm bảo chính xác tuyệt đối.* Đâu là điểm khác biệt trong quá trình điều trị STTTN so với cách điều trị trước đó, thưa bà?- Trước kia đối với bệnh nhân suy thận, đặc biệt STTTN chỉ được chạy TNT, họ được chỉ định ngưng toàn bộ điều trị. Hoặc do không nhìn thấy nhóm bệnh STTTN nên người bệnh chỉ đơn thuần được sử dụng corticosteroid corticoid uống thông thường hoặc truyền tĩnh mạch liều cao. Điều này dẫn đến việc người bệnh mất cơ hội thoát khỏi chạy TNT, xa hơn là mất cơ hội duy trì sự cứu lần này chúng tôi chứng minh nếu chỉ dừng lại ở việc uống corticoid hoặc dùng corticosteroid liều cao thì hầu hết bệnh nhân đều không đáp ứng 80%, không thể hồi phục chức năng thận. Do đó để điều trị tốt nhất đòi hỏi phải chuyển sang một bước điều trị phức tạp hơn rất thể, đối với bệnh nhân bị vi mạch huyết khối thay vì không điều trị gì hết chúng tôi theo dõi thay huyết tương toàn bộ thể tích dịch trong cơ thể. Đồng thời sử dụng thuốc ức chế miễn dịch mạnh kèm theo dùng kháng đông toàn thân, kết hợp với chạy TNT nếu bệnh nhân được chỉ định chạy TNT. Phác đồ thay huyết tương không theo "lối mòn" mà dựa vào tình trạng cụ thể của từng bệnh nhân, thường thay ít nhất 5 lần và cao nhất 9 lần. Mỗi bệnh nhân có tổng thời gian theo dõi phải ít nhất một Trần Thị Bích Hương - Ảnh DUYÊN PHANNgười bệnh có cơ may không phải chạy thận nhân tạo* Bà có kỳ vọng trong tương lai đề tài này sẽ được phổ biến rộng rãi hơn để ngăn chặn căn bệnh được ví là cái chết thầm lặng?- Với nghiên cứu này chúng tôi đã ngăn chặn được gần 90% bệnh nhân bị suy thận sắp chạy TNT không phải chạy TNT. Đối với nhóm đã chạy TNT ít nhất 3 tháng, chúng tôi hồi phục được 60% bệnh nhân không còn lệ thuộc TNT. Như vậy không chỉ tiết kiệm được chi phí chạy TNT, chúng tôi "kéo" người bệnh khỏi... án tử, tăng tuổi thọ và đặc biệt cải thiện đáng kể chất lượng sống của họ. Bởi một khi chạy TNT hẳn nhiên chất lượng sống, tuổi thọ của người bệnh sẽ giảm ít nhất 30 năm. Điều này là một kỳ tích ngoạn tôi hi vọng đây là một bước tiến chứng minh rằng chúng ta có khả năng đi sâu tìm hiểu cơ chế, căn nguyên của bệnh STTTN. Từ đó tác động đến bệnh lý căn nguyên nhằm điều trị hồi phục được một nhóm bệnh, mà nếu bị bỏ qua sẽ làm cho người bệnh tổn hại vĩnh viễn.* Thời gian để một bệnh nhân STTTN hồi phục khi áp dụng phương pháp điều trị này là bao lâu, thưa bà?- Tôi muốn nhấn mạnh đến một nhóm rất đặc biệt có khả năng hồi phục rất cao là nhóm viêm thận lupus xảy ra ở nữ, trẻ tuổi. Những bệnh nhân này thường có tâm lý chấp nhận "sống chung" với bệnh suốt đời nên thường ngưng thuốc để sinh con. Khi họ ngưng thuốc thì bệnh bùng phát, điều này có thể dẫn đến tình trạng bị viêm thận lupus phải vào chương trình điều trị tấn công bằng liệu pháp ức chế miễn dịch trong vòng 6 tháng, định kỳ mỗi tháng phải truyền thuốc. Tổng thời gian điều trị cho một trường hợp bệnh này là khoảng 2 năm. Đặc biệt lưu ý, hiệu quả hồi phục tối ưu là với bệnh nhân STTTN chưa chạy TNT hoặc chạy TNT dưới 3 tháng.* Bà trăn trở và hạnh phúc nhất điều gì khi công bố nghiên cứu này?- Kể từ khi kết thúc việc nghiên cứu, việc áp dụng phương pháp điều trị vẫn tiếp tục nhận bệnh nhân mới điều trị. Đặc biệt, trong năm 2018 chúng tôi nâng tỉ lệ bệnh nhân STTTN chạy TNT hồi phục lên 80%. Có nghĩa từ việc nghiên cứu và áp dụng thực tế kỹ thuật, chất lượng điều trị được cải thiện đáng thể nói chúng tôi là nhóm đầu tiên ở Việt Nam thử sức vào một lĩnh vực thận học rất chuyên sâu, khó. Đề tài đạt được hai mục tiêu quan trọng là bảo toàn tính mạng cho người bệnh và bảo toàn chức năng dù đây là tâm huyết của tôi nhưng là giải thưởng của tập thể bởi nếu không có sự quyết tâm của cả một tập thể thì không thể cứu được những người bệnh quá nặng thế nhân chạy thận tại Bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng - Ảnh Vũ Đình Hùng chủ tịch hội đồng nghiệm thu đề tài Sở KHCN nhân rộng ở tuyến y tế cơ sởĐây là đề tài nghiên cứu đầu tiên được đầu tư bài bản, chuyên sâu tại nước ta về bệnh STTTN mà lâu nay bị bỏ quên. Sự đóng góp này là rất lớn cho cộng đồng và riêng ngành thận nghĩ rất cần phổ biến phác đồ điều trị này ở các tuyến y tế cơ sở nhằm cảnh báo phối hợp xử trí kịp thời để cứu người Nguyễn Bách trưởng khoa thận nhân tạo Bệnh viện Thống Nhất bổ sung vào bài giảngĐề tài nghiên cứu của nhóm bác sĩ Hương rất có giá trị thực tiễn bởi không chỉ cứu được bệnh nhân còn cứu được thận cho họ. Điều này khá xa lạ ở nước ta khi chưa có nhiều bác sĩ thực sự quan tâm điều trị khiến nhiều bệnh nhân rơi vào suy thận giai đoạn cuối một cách quá uổng giá trị thực tiễn mang lại, tôi nghĩ đề tài này cần được bổ sung vào chương trình giảng dạy học để các bác sĩ tương lai bổ sung kiến thức, khơi dậy cách nhận biết để xử trí cho người Trần Thị Bích Hương - Khoa Thận, Bệnh viện Chợ Rẫy - Ảnh DUYÊN Trần Thị Bích Hương thăm hỏi bệnh nhân đang điều trị thận tại BV Chợ Rẫy - Ảnh DUYÊN Trần Thị Bích Hương thăm hỏi bệnh nhân đang điều trị thận tại BV Chợ Rẫy - Ảnh DUYÊN PHAN
1. Khi nào cần chạy thận nhân tạo? Thận là cơ quan quan trọng của cơ thể, có chức năng duy trì cân bằng dịch tổng thể; Điều hòa và lọc khoáng chất từ máu; Lọc chất thải từ thực phẩm, thuốc và các chất độc hại; Tạo ra các hormone giúp sản sinh hồng cầu, tăng cường sức khỏe của xương và điều hòa huyết áp. Đối với các bệnh nhân bị bệnh suy thận giai đoạn cuối thì thận không thể thực hiện các chức năng tự nhiên của nó một cách đầy đủ, gây tổn hại cho sức khỏe, thậm chí là tử vong. Khi đó, chạy thận nhân tạo là giải pháp giúp bệnh nhân duy trì được cuộc sống và kéo dài thời gian sống. Vậy chạy thận nhân tạo là gì? Đó là quá trình là thiết lập vòng tuần hoàn ngoài cơ thể có lưu lượng máu từ 200 – 400 ml/phút, thời gian kéo dài từ 4 – 8h. Quá trình này sử dụng máy lọc để “làm sạch” máu thay cho chức năng thận của người bệnh. Sau khi được lọc bỏ các chất cặn bã, máu sẽ đưa trở lại vào cơ thể. Chạy thận nhân tạo dựa trên các cơ chế sau Cơ chế siêu lọc Do áp lực của bơm máu cao hơn áp lực bơm dịch nên áp lực thủy tĩnh của khoang máu sẽ cao hơn áp lực ở khoang dịch, nước từ khoang máu sẽ di chuyển sang khoang dịch và kéo theo các chất hòa tan. Cơ chế khuếch tán riêng phần Các chất hòa tan như urê, creatinin và các chất có trọng lượng phân tử nhỏ khác có nồng độ cao trong máu sẽ khuếch tán từ máu sang khoang dịch lọc do sự chênh lệch nồng độ. Cơ chế dòng đối lưu Sau một thời gian khi chất tan ở khoang máu và khoang dịch lọc cân bằng nhau, quá trình khuếch tán sẽ giảm hiệu lực. Chỉ định chạy thận nhân tạo Tất cả những người bệnh suy thận giai đoạn cuối phải điều trị thay thế khi khả năng làm việc của thận còn 10-15%, hay mức lọc cầu thận MLCT ≤ 15 ml/ phút/ m2 . Ở những bệnh nhân có bệnh lý kèm theo là đái tháo đường, có thể chỉ định sớm hơn. Ngoài ra, kỹ thuật thận nhân tạo còn được áp dụng để lọc máu trong các trường hợp khác Chỉ định lọc máu cấp cứu, ngộ độc,… Lọc máu chu kỳ 1 tuần ≥ 12 giờ mỗi lần lọc máu ít nhất 4 giờ, tuần 3 lần, cách ngày. Chạy thận nhân tạo là một quy trình đòi hỏi sự nghiêm ngặt, kéo dài theo suốt cuộc đời, kết hợp với việc dùng thuốc và chế độ ăn uống hợp lý. Do đó, để đảm bảo an toàn và hiệu quả điều trị cao nhất, bệnh nhân cần lựa chọn cơ sở y tế chất lượng, tránh xảy ra các rủi ro biến chứng. Đối tượng chống chỉ định tuyệt đối chạy thận nhân tạo Không có đường lấy máu thích hợp. Đối tượng chống chỉ định tương đối chạy thận nhân Trụy tim mạch, rối loạn nhịp tim, nhồi máu cơ tim và bệnh mạch vành, suy tim toàn bộ, rối loạn đông máu và chảy máu. Ngoài ra còn có Người bệnh đang sốt cao, suy kiệt do ung thư. 2. Quy trình chạy thận nhân tạo Quy trình chạy thận nhân tạo là quá trình máu được lọc bằng máy chạy thận ngoài cơ thể. Khi lọc máu, máu được rút ra từ mạch máu, sau đó di chuyển qua quả lọc máu. Qủa lọc sẽ có tác dụng làm sạch máu, rồi đưa máu quay trở lại cơ thể bệnh nhân qua mạch máu. Qúa trình này diễn ra ít nhất 4h mỗi lần, ở bệnh nhân nhẹ thì 1 tuần lọc 2 lần, sau đó tăng lên 3 lần/ tuần. – Theo dõi sau quá trình chạy thận nhân tạo Sau khi chạy thận nhân tạo cần phải theo dõi Huyết áp, mạch ở các tư thế đứng, nằm; Các dấu hiệu của cao hoặc tụt huyết áp; Cân nặng của bệnh nhân,… Chú ý Sau khi lọc máu, người bệnh không được ngủ gối đầu tay vì tăng nguy cơ tắc nghẽn, nhiễm trùng do sự phát sinh các cục máu đông. Các tai biến có thể xảy ra trong và sau khi chạy thận nhân tạo Tụt huyết áp, chuột rút, buồn nôn, nôn, đau đầu, sốt, rét run, tắc mạch do khí, các biến chứng do thủ thuật,… 3. BHYT có chi trả cho bệnh nhân chạy thận nhân tạo không? Theo quy định của Bộ Y tế, chi phí cho mỗi lần chạy thận nhân tạo của bệnh nhân bao gồm 11 khoản dây lọc máu, màng lọc, dịch sát khuẩn màng lọc,…. Trong đó BHYT thanh toán 7 khoản nhưng không vượt quá đồng đối với bệnh viện hạng một. Mức chi trả bảo hiểm còn phụ thuộc vào vấn đề người bệnh được thanh toán theo diện đồng chi trả 80%, 95% hay 100%; chạy thận ở bệnh viện nào. Bệnh nhân chạy thận nhân tạo có 2 dạng là chạy thận cấp cứu khi có bệnh lý cấp tính và chạy thận chu kỳ. Bệnh nhân chạy thận cấp cứu lần đầu phải đặt cathete riêng, chi phí phần này khoảng 1 triệu đồng. Chi phí chạy thận chu kỳ tùy thuộc vào vật tư tiêu hao, trung bình khoảng đến 1 triệu đồng một lần. Do đó, trong trường hợp bảo hiểm y tế chi trả 100%, người bệnh mỗi lần chạy thận còn phải đóng thêm khoảng đồng nữa. Một số bệnh viện có quy định chi trả thêm vài phụ phí đi kèm như Điện, nước,.. dao động trong khoảng 20-30 nghìn đồng. Khoản chi phí chi trả thêm với nhiều bệnh nhân là con số đáng kể, vì số lần chạy thận chiếm khoảng thời gian dài và phải theo gần như suốt cuộc đời để duy trì sự sống. Cụ thể, người bệnh chạy thận nhân tạo chu kỳ thông thường được chỉ định chạy 3 lần mỗi tuần; Trường hợp bệnh nhẹ thì thời gian đầu 2 lần mỗi tuần, sau đó tăng lên 3 lần. 4. Chạy thận nhân tạo sống được bao lâu? Theo các chuyên gia, nếu bệnh nhân chạy thận nhân tạo đều đặn sẽ tăng khả năng sống lên 5-10 năm, có trường hợp lên đến 20-30 năm. Điều này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố Mức độ bệnh, giai đoạn bệnh, chế độ ăn uống, chế độ luyện tập, khả năng kinh tế,… 5. Làm gì để tăng tuổi thọ cho bệnh nhân chạy thận nhân tạo? – Tuân thủ chỉ định điều trị của bác sĩ. – Xây dựng chế độ sinh hoạt – dinh dưỡng nghiêm ngặt và hợp lý Chế độ ăn giàu calo, cần ăn nhạt, không được ăn quá nhiều muối. Không sử dụng các đồ uống như trà, cà phê, rượu, bia,… Chế độ ăn nhiều chất đạm, vitamin, ít nước, hạn chế thực phẩm nhiều kali, natri,… – Tránh tập luyện và làm việc nặng, thái độ sống lạc quan, giảm căng thẳng, vận động nhẹ nhàng, dành nhiều thời gian hơn cho việc nghỉ ngơi. Bệnh viện Nguyễn Tri Phương - Đa khoa Hạng I Thành phố Hồ Chí Minh
Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Bác sĩ chuyên khoa I Nguyễn Hùng - Bác sĩ điều trị Bệnh nội tiết - Khoa Khám bệnh & Nội khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Đà Nẵng Bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn 5 cần chạy thận nhân tạo thường xuyên để giúp lọc máu, làm sạch chất thải, loại bỏ nước thừa. Tuy nhiên trong quá trình chạy thận, nhiều biến chứng chạy thận nhân tạo có thể xảy ra. Chạy thận nhân tạo là phương pháp lọc máu ngoài cơ thể, máu bệnh nhân sẽ được hút vào máy chạy thận để lọc chất cặn bã và lượng nước thừa, sau khi được làm sạch, máu sẽ được trả lại vòng tuần hoàn bệnh nhân. Chạy thận nhân tạo là một trong những phương pháp điều trị thay thế thận cho bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn 5, tức suy thận mạn giai đoạn cuối, khi mức lọc cầu thận ≤ 15ml/phút/ m2. Một khi đã được chỉ định chạy thận nhân tạo, bệnh nhân suy thận mạn sẽ phải chạy thận suốt đời. Thông thường bệnh nhân sẽ được lọc máu mỗi tuần 3 lần, thực hiện cách ngày, mỗi lần lọc máu diễn ra ít nhất 4 giờ. Hình ảnh chạy thận nhân tạo 2. Các biến chứng chạy thận nhân tạo lâu dài Hạ huyết ápĐây là biến chứng chạy thận nhân tạo thường gặp nhất, tỷ lệ gặp là 20-30% bệnh nhân. Có nhiều nguyên gây hạ huyết áp khi chạy thận nhân tạo nhưGiảm hoặc tăng quá mức thể tích máu Thời gian chạy thận ngắn, người bệnh tăng cân nhiều giữa các lần lọc máu, trọng lượng khô, số ký rút được tính không chính xác,...Nhiệt độ dịch lọc cao hơn nhiệt độ máu của bệnh nhân, da người bệnh sẽ giãn ra nhằm thoát nhiệt. Sự giãn mạch làm giảm kháng lực mạch, gây nguy cơ cao hạ huyết nhân ăn khi chạy thận. Khi ăn, dung lượng máu sẽ đổ về các tĩnh mạch hệ tiêu hóa, lượng máu về tim kém, gây nguy cơ hạ huyết nhân uống thuốc hạ huyết áp trước khi chạy nhân có các bệnh tim mạch như suy tim, nhồi máu cơ tim, rối loạn nhịp tim, thiếu máu cục bộ,.. Ở các bệnh nhân có bệnh lý tim mạch, cơ chế bù trừ ở tim bị rối loạn gây nguy cơ tăng huyết nhân hiếm gặp Dị ứng màng lọc, thuyên tắc khi, nhiễm trùng Chuột rútLà biến chứng chạy thận nhân tạo thường gặp thứ hai sau hạ huyết áp, tỷ lệ gặp là 5-20% bệnh nhân. Các yếu tố gây thuận lợi cho chuột rút làHạ huyết ápTăng cân nhiềuThể tích tuần hoàn giảmNồng độ Na+ trong dịch lọc thấpNồng độ Mg+, Ca++ trong máu bệnh nhân thấp trước khi lọc Buồn nôn và nônXảy ra ở 5-15% bệnh nhân chạy thận, các nguyên nhân gây buồn nôn và nôn làHạ huyết ápHội chứng mất cân bằngPhản ứng với màng lọcLiệt dạ dàyDịch lọc bị nhiễm bẩn hoặc dịch lọc có nồng độ các chất không phù bệnh nhân buồn nôn và nôn, phải kiểm tra huyết áp bệnh nhân, tiến hành điều trị hạ huyết áp nếu có. Cho bệnh nhân sử dụng các thuốc chống nông như Metoclopramid nếu cần thiết. Phòng ngừa tăng huyết áp là biện pháp chống nôn quan trọng nhất. Buồn nôn và nôn là biến chứng chạy thận nhân tạo lâu dài Nhức đầuLà biến chứng chạy thận nhân tạo xảy ra ở 5% bệnh nhân. Nguyên nhân nhức đầu hiện chưa rõ, có thể là triệu chứng của mất cân bằng hoặc các nguyên nhân thần kinh khác. Đối với bệnh nhân nghiện cà phê, khi lọc máu sẽ làm giảm nhanh nồng độ cà phê trong máu nên gây nhức Đau ngực, đau lưng2-5% bệnh nhân chạy thận có hiện tượng đau ngực nhẹ kèm theo đau lưng. Nguyên nhân thường do hội chứng sử dụng bộ lọc lần đầu hoặc thiếu máu cơ tim. Không có xử trí hay phòng ngừa đặc hiệu với triệu chứng này. Theo dõi sát bệnh nhân và xử trí theo từng trường hợp cụ NgứaNgứa là một triệu chứng thường gặp ở bệnh nhân suy thận. Nguyên nhân của ngứa có thể doDị ứng với màng lọc hoặc một số chất trong dịch lọcCường phó giáp thứ phátLắng đọng trên da các tinh thể Mg2+, Ca2+, Phospho,...Viêm gan do thuốc hoặc do Hội chứng mất quân bìnhThường xuất hiện ở những bệnh nhân cao tuổi, nhiễm toan chuyển hóa nặng hoặc có tổn thương não trước đó. Bệnh có các triệu chứng như buồn nôn, đau đầu, bứt rứt, huyết áp cao, mất định hướng, động kinh, hôn mê,...Khi xuất hiện hội chứng mất quân bình mức độ nặng, tiến hành ngừng lọc máu, hồi sức giữ thông đường thở, cho bệnh nhân thở máu, điều trị chống động kinh, cao huyết áp,... Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Người suy thận, sau khi thay thận sống được bao năm và nếu có sự bài xích gây ảnh hưởng gì không? Dấu hiệu suy thận giai đoạn đầu Điều trị thận ứ nước do hẹp khúc nối bể thận niệu quản
Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Bác sĩ chuyên khoa I Nguyễn Hùng - Khoa Khám bệnh & Nội khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Đà Nẵng. Chạy thận nhân tạo là một trong những phương pháp điều trị bệnh suy thận. Ưu điểm của phương pháp chạy thận nhân tạo là màng lọc nhân tạo chỉ cho phép đào thải các chất cặn bã và giữ lại những thành phần cần thiết trong máu. Dù vậy, khi điều trị vẫn cần lưu ý một số biến chứng chạy thận nhân cơ thể người, thận đóng vai trò lọc máu và đào thải các chất độc, nước và muối ra khỏi cơ thể. Khi bị suy thận, nhất là ở giai đoạn cuối, thận sẽ ngừng làm việc hoàn toàn. Lúc này, phương pháp chạy thận nhân tạo được áp dụng, một chiếc máy lọc thận sẽ thay thế thận làm việc. Chạy thận nhân tạo là phương pháp điều trị sử dụng máy chạy thận để lọc máu bên ngoài cơ thể bệnh nhân. Cụ thể, máu của người bệnh được rút ra từ mạch máu và đi qua một hệ thống lọc máu tổng hợp. Trong hệ thống lọc này, máu được “làm sạch” trước khi đưa trở lại cơ thể của người bệnh. Do đó, hệ thống lọc này được gọi là “thận nhân tạo”. Phương pháp chạy thận nhân tạo được áp dụng để điều trị bệnh suy thận, thông thường được thực hiện khoảng 3 lần/tuần, tối thiểu 4 giờ/lần và được tiến hành tại một trung tâm lọc máu với thận nhân trị suy thận bằng phương pháp chạy thận phải được thực hiện theo quy trình để đảm bảo sự an toàn đối với người bệnh. Chạy thận nhân tạo được áp dụng để điều trị bệnh suy thận 2. Quá trình chạy thận nhân tạo diễn ra như thế nào? Trước quá trình chạy thận nhân tạoTrước tiên, bệnh nhân được tiếp cận mạch máu, bằng cách dùng kim dẫn đưa một lượng nhỏ máu ra bên ngoài cơ thể đến máy chạy thận nhân tạo, sau khi lọc, máu từ máy chạy thận lại được đưa trở về cơ thể thông qua một cây kim 3 cách tiếp cận mạch máu, đó là bằng lỗ thông động tĩnh mạch, bằng ống thông nối động - tĩnh mạch nhân tạo và bằng cách đặt đường truyền tĩnh mạch trung khi chạy thận nhân tạo, để đảm bảo không có sự cố nguy hiểm xảy ra, bác sĩ sẽ kiểm tra kỹ tình trạng của người bệnh, bao gồm cân nặng, nhiệt độ cơ thể, chỉ số huyết áp, mạch,.... Trong quá trình chạy thận nhân tạoTiếp cận mạch máu bệnh nhân bằng 2 cây kim, mỗi cây được nối với một ống đàn hồi và máy chạy thận. Thông qua ống kim này, máy chạy thận sẽ tiến hành lọc khoảng vài ml máu trong một lần lọc, chất thải và chất lỏng có trong máu sẽ được làm sạch bởi một chất lỏng gọi là chất thẩm tách dialysis. Sau khi lọc, máu sẽ được đưa trở lại cơ thể thông qua ống thứ với trường hợp bệnh nhân chạy thận nhân tạo ít hơn 3 lần/tuần có thể xuất hiện một số triệu chứng như đau bụng, buồn nôn, thay đổi nhịp tim và huyết áp khi máu được đưa ra khỏi cơ thể...Tùy theo từng trường hợp, bệnh nhân có thể yêu cầu bác sĩ điều chỉnh tốc độ lọc máu và loại chất thẩm tách cũng như loại thuốc sử Sau quá trình chạy thận nhân tạoSau khi hoàn tất quá trình chạy thận, hai cây kim được rút ra khỏi mạch máu. Kết thúc quá trình chạy thận, bệnh nhân có thể trở về nhà và sinh hoạt bình thường. Kết thúc quá trình chạy thận nhân tạo, bệnh nhân có thể trở về nhà 3. Chạy thận nhân tạo được chỉ định cho đối tượng bệnh nhân nào? Không phải tất cả các bệnh nhân mắc bệnh lý về thận đều được chạy thận nhân tạo, Phương pháp này được chỉ định đối với những bệnh nhân bị tổn thương thận cấp hoặc mãn tính. Nguyên nhân là do sự tổn thương thận làm hạn chế khả năng lọc và đào thải lượng dịch dư thừa, độc hại ra khỏi cơ thể của thận. Do đó, chạy thận nhân tạo giúp loại bỏ các chất cặn bã ra khỏi máu, giúp cơ thể duy trì cân bằng điện giải và thay thế chức năng đã bị tổn thương của pháp chạy thận nhân tạo được chỉ định thực hiện cho những trường hợp bệnh nhân có dấu hiệu sauCác dấu hiệu của hội chứng urê như nôn, buồn nôn, không ngon miệng, mệt mỏi...;Lượng kali trong máu và axit máu tăng cao;Thận không còn đủ khả năng loại bỏ lượng dịch thừa ra khỏi cơ thể, dẫn đến gây phù;Bị viêm màng ngoài tim;Các trường hợp ngộ độc cấp tính khiến thận bị tổn nhiên, tùy theo tình trạng bệnh lý và thể trạng của mỗi người bệnh, quá trình chạy thận nhân tạo có thể gây ra một số biến chứng nêu trên. Do đó, chỉ định chạy thận phải được cân nhắc trong từng trường hợp, khi tiến hành chạy thận phải lưu ý thực hiện đúng quy trình với sự giám sát chặt chẽ để có thể phát hiện sớm sự cố xảy ra và có biện pháp xử trí kịp thời, không làm ảnh hưởng đến tính mạng và sức khỏe của bệnh nhân. 4. Một số biến chứng chạy thận nhân tạo cần lưu ý Những biến chứng thường gặp khi chạy thận nhân tạo xảy ra theo thứ tự tần suất như sau tụt huyết áp 20 - 30%, chuột rút 5 - 20%, nôn và buồn nôn 5 - 15%, nhức đầu 5%, đau ngực 2 - 5%, ngứa 5%, sốt ớn lạnh <1%. Cụ thể như sauTụt huyết ápLiên quan đến việc thể tích máu bị giảm quá mức hoặc tăng nhanh chóng, xảy ra khi người bệnh tăng cân nhiều giữa hai lần chạy thận, hoặc thời gian chạy thận ngắn, trọng lượng khô thấp hơn trọng lượng khô thực tế, việc tính toán số ký rút không chính xác hoặc nhầm. Tuy nhiên, biến chứng tụt huyết áp trong chạy thận nhân tạo chủ yếu là do giảm thể tích máu khi rút dịch siêu lọc mà không đáp ứng đủ lượng huyết động bù trừ. Tụt huyết áp là biến chứng chạy thận thường gặp Chuột rútNguyên nhân gây ra hiện tượng chuột rút khi chạy thận hiện chưa rõ. Các yếu tố bao gồm tụt huyết áp, giảm thể tích, tốc độ siêu lọc cao khiến người bệnh tăng cân nhiều giữa hai lần chạy thận và sử dụng dung dịch lọc có nồng độ natri thấp, sẽ tạo thuận lợi cho việc co mạch, gây giảm tưới máu cơ và làm rối loạn thư giãn chứng chuột rút trong chạy thận nhân tạo liên quan đến tụt huyết áp, mặc dù hiện tượng chuột rút kéo dài dai dẳng sau khi huyết áp của người bệnh đã được phục hồi. Chuột rút cũng thường gặp trong tháng đầu tiên khi chạy thận hơn giai đoạn sau. Ngoài ra, nồng độ magie trong máu giảm cũng có thể gây ra biến chứng chuột rút kháng trị trong chạy thận nhân tạo. Bên cạnh đó, nồng độ canxi trong máu hạ xuống cũng được xem như là nguyên nhân tiềm tàng. Cuối cùng, hạ kali trong máu trước khi chạy thận cũng có thể gây ra chuột rút do nồng độ kali của dịch lọc thường dùng là 2 nôn và nônCó nhiều nguyên nhân gây ra biến chứng buồn nôn khi chạy thận nhân tạo. Ở bệnh nhân ổn định, nguyên nhân đa phần là do tụt huyết áp. Buồn nôn và nôn cũng có thể là triệu chứng sớm của hội chứng mất cân bằng. Ngoài ra, phản ứng màng lọc có thể gây ra hiện tượng buồn nôn và nôn. Liệt dạ dày nhẹ cũng sẽ nặng lên do chạy thận, thường gặp ở bệnh nhân tiểu đường, nhưng cũng có thể gặp ở bệnh nhân không bị tiểu đường. Khi dung dịch lọc bị nhiễm bẩn hoặc nồng độ các chất không đúng như natri, canxi cao cũng có thể gây ra buồn nôn và nhân chạy thận nhân tạo cũng dễ bị buồn nôn và nôn hơn những bệnh nhân khác như nhiễm trùng hô hấp, sử dụng thuốc gây nghiện, tăng canxi máu. Việc chạy thận cũng có thể làm triệu chứng của các bệnh lý này nặng đầuĐây cũng là biến chứng chạy thận thường gặp, tuy nhiên nguyên nhân gây nhức đầu chưa được xác định rõ, đó cũng có thể là dấu hiệu kín của hội chứng mất cân bằng. Nếu người bệnh có uống cà phê, nhức đầu có thể là triệu chứng do việc ngưng sử dụng cà phê, do nồng độ cà phê giảm cấp tính khi chạy triệu chứng nhức đầu là không điển hình hoặc quá nặng, cần xem xét nguyên nhân về thần kinh đặc biệt là tình trạng xuất huyết do thuốc kháng đông.Đau ngực, đau lưngBệnh nhân chạy thận nhân tạo thường sẽ thấy đau thắt ngực nhẹ hoặc khó chịu ở vùng ngực có thể có kèm đau lưng. Nguyên nhân gây ra triệu chứng này là chưa rõ, do đó phải chẩn đoán để phân biệt với nhiều nguyên nhân gây đau ngực khác ví dụ như bệnh tán huyết, thuyên tắc khí, nhồi máu cơ tim, viêm màng ngoài tim.NgứaNgứa cũng là một biến chứng chạy thận thường gặp, triệu chứng này có thể được thúc đẩy hoặc nặng hơn do chạy thận. Nếu ngứa có kèm các biểu hiện dị ứng nhẹ khác, thì đó có thể là dị ứng mức độ nhẹ với màng lọc hoặc thành phần của dây chạy thận. Tuy nhiên, triệu chứng ngứa thường gặp là mãn tính. Để xác định nguyên nhân gây ngứa, không nên bỏ qua bệnh viêm gan siêu vi hoặc do sử dụng thuốc vì đây có thể là nguyên nhân tiềm phát hiện các biến chứng chạy thận bất thường nào xảy ra, cần phải xử trí nhanh chóng để giúp bệnh nhân thoát khỏi tình trạng nguy kịch vì có thể có nguy cơ dẫn đến tử đảm bảo an toàn khi điều trị chạy thận nhân tạo, bệnh nhân phải thực hiện đúng theo lịch trình điều trị một cách nghiêm ngặt, uống thuốc thường xuyên, thay đổi chế độ ăn uống phù hợp, hợp tác chặt chẽ với y bác sĩ, phòng tránh biến chứng có thể xảy sĩ Nguyễn Hùng tốt nghiệp bác sĩ chuyên khoa I Nội tổng quát - Đại học Y Dược Tp Hồ Chí Minh; sử dụng được Tiếng Anh và Tiếng Pháp. Với kinh nghiệm trên 36 năm trong nghề, trong đó 17 năm là Trưởng khoa Nội thận - nội tiết Bệnh viện Đà Nẵng bác sĩ có kinh nghiệm trong điều trị các bệnh lý về nội tiết – đái đường và thận . Hiện tại, là bác sĩ điều trị bệnh nội tiết tại Khoa Khám bệnh & Nội khoa Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Đà Nẵng. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Người lớn thiếu canxi nên uống gì? Bà bầu có nên đi dép cao gót? Mẹo để tránh chuột rút ở chân khi mang thai
Đối với những bệnh nhân bị tổn thương thận vĩnh viễn, trong suy thận mạn giai đoạn cuối, thì chạy thận là phương pháp điều trị duy nhất trừ khi được tiến hành ghép thận. Họ cần phải chạy thận liên tục cho đến khi có thận phù hợp để thay thế nhằm kéo dài sự sống. Nếu không có thận tương thích hoặc sức khỏe bệnh nhân không cho phép mổ thay thận thì phải chạy thận suốt đời. Nếu không chạy thận hoặc ghép thận, bệnh nhân suy thận mạn tính giai đoạn cuối thường chỉ sống được vài tuần sau khi được chẩn đoán. Vậy, nếu điều trị thì bệnh nhân chạy thận sống được bao lâu? Rất khó để xác định một người chạy thận nhân tạo sống được bao lâu bởi có rất nhiều yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến tuổi thọ của bệnh nhân. Chẳng hạn như mức độ nghiêm trọng của bệnh thận, tuổi tác, thể trạng, bệnh mắc kèm khác cũng như mức độ tuân thủ theo kế hoạch điều trị. Theo thống kê, trung bình một người chạy thận có thể sống được thêm từ 5 đến 10 năm. Thậm chí, một số bệnh nhân chạy thận có tuổi thọ kéo dài thêm 20 hoặc thậm chí 30 năm nếu tuân thủ đúng theo phác đồ. Theo NHS Dịch vụ y tế Quốc gia Anh, một người bắt đầu chạy thận ở độ tuổi 20 có thể sống thêm 20 năm và lâu hơn nữa. Tuy nhiên, người trên 75 tuổi chỉ có thể sống được từ 2 đến 3 năm. Điều này đã chứng minh rằng tuổi tác là một yếu tố vô cùng quan trọng quyết định xem chạy thận sống được bao lâu. Nếu không chạy thận sống được bao lâu? Câu hỏi “nếu không chạy thận sống được bao lâu?” cũng được nhiều bệnh nhân quan tâm. Khi bệnh nhân cảm thấy chạy thận là gánh nặng và không giúp cải thiện bệnh, họ có quyền thảo luận với bác sĩ để ngừng chạy thận. Nếu không chạy thận, người bệnh suy thận giai đoạn cuối thường chỉ sống được một vài tuần do chất độc và chất lỏng tích tụ nhiều trong cơ thể gây khó thở. Một số trường hợp bác sĩ có thể kê đơn thuốc lợi tiểu để giúp bệnh nhân dễ thở hơn, bác sĩ cũng khuyến cáo bệnh nhân hạn chế ăn mặn và uống nhiều nước, để hạn chế tình trạng giữ muối, giữ nước. Những lưu ý giúp bệnh nhân chạy thận kéo dài tuổi thọ Sau khi tìm hiểu người chạy thận nhân tạo sống được bao lâu thì bạn cũng nên biết thêm về những lưu ý để giúp bệnh nhân chạy thận có thể kéo dài tuổi thọ. Người chăm sóc nên Theo dõi và báo với bác sĩ bất kỳ tác dụng phụ nào mà bệnh nhân chạy thận đang gặp phải như mệt mỏi, chuột rút, da ngứa, huyết áp thấp, nhiễm trùng huyết,… Chạy thận nên được thực hiện tại bệnh viện hoặc các trung tâm y tế, tuy nhiên, nếu bác sĩ cho phép chạy thận tại nhà hãy nhờ hướng dẫn thật kỹ để có thể hỗ trợ bệnh nhân. Giúp bệnh nhân duy trì một số các hoạt động yêu thích như đọc sách, xem tivi, lướt internet, tập thể dục để giải tỏa tinh thần. Đảm bảo dinh dưỡng cho người chạy thận với ít muối, hạn chế thực phẩm giàu kali và phốt pho, ăn nhạt, theo dõi chặt chẽ lượng nước nạp vào cơ thể. Khuyến khích người bệnh nếu có thể thì vẫn tiếp tục làm việc và học tập như bình thường, sắp xếp lịch trình sinh hoạt thường ngày và lịch chạy thận một cách khoa học. Hy vọng thông qua bài viết này bạn sẽ có câu trả lời cho vấn đề chạy thận sống được bao lâu. Hầu hết mọi người bệnh có thể phải tiếp tục chạy thận trong nhiều năm. Tuy nhiên, bằng cách tuân thủ đúng phác đồ điều trị và duy trì chế độ ăn uống, sinh hoạt lành mạnh, bệnh nhân có thể kéo dài tuổi thọ một cách đáng kể.
hội những người chạy thận nhân tạo